Lao động & BHXH

Trốn đóng BHXH ở doanh nghiệp: hành vi bị coi là trốn đóng, mức phạt, trách nhiệm hình sự và cách tự kiểm tra

Kiểm ngày 22/10/2026 · kiểm tra lại 22/01/2027

Tập giấy, bút và máy tính bỏ túi trên bàn làm việc, bên cạnh khay giấy và laptop, phía sau là nhà xưởng
1

Trốn đóng BHXH bắt buộc gồm ba nhóm hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người sau 60 ngày kể từ hạn đăng ký; đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng thiếu số đã đăng ký sau 60 ngày kể từ hạn đóng và đã được đôn đốc (khoản 1 Điều 39 Luật BHXH 41/2024/QH15).

2

Doanh nghiệp trốn đóng phải đóng đủ số tiền trốn đóng, nộp thêm 0,03%/ngày, không được xét thi đua, khen thưởng, bị công khai và bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự (Điều 35, Điều 41 Luật BHXH); mức phạt hành chính với doanh nghiệp từ 10/9/2026 là 36% đến 40% số tiền trốn đóng, tối đa 150.000.000 đồng (Điều 7, Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP).

3

Điều 216 Bộ luật Hình sự chỉ đặt ra khi có gian dối hoặc thủ đoạn khác, kéo dài từ 06 tháng trở lên (liên tục hoặc cộng dồn), từ 50.000.000 đồng hoặc từ 10 người lao động trở lên và đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm; pháp nhân thương mại có thể bị phạt tiền đến 3.000.000.000 đồng.

Nhiều doanh nghiệp không cố ý né bảo hiểm xã hội (BHXH) nhưng vẫn rơi vào diện trốn đóng: ký hợp đồng thử việc kéo dài rồi quên đăng ký, đóng theo mức lương “cơ bản” trong khi phụ cấp cố định nằm ngoài, hoặc để khoản nợ đã đăng ký vượt quá mốc 60 ngày sau khi nhận văn bản đôn đốc. Từ ngày 01/7/2025, Luật BHXH 41/2024/QH15 định nghĩa trốn đóng cụ thể hơn; từ 10/9/2026, mức phạt áp dụng theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP; dữ liệu tiền lương khai với cơ quan thuế cũng được dùng để đối chiếu. Bài này lấy trốn đóng làm trục, giúp Quý khách nhận diện đúng hành vi, ước tính trách nhiệm tài chính và chủ động khắc phục.

Trả lời nhanh: trốn đóng BHXH gồm ba nhóm hành vi: không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người sau 60 ngày kể từ hạn đăng ký; đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng thiếu số đã đăng ký sau 60 ngày kể từ hạn đóng khi đã được đôn đốc. Doanh nghiệp phải đóng đủ số tiền trốn đóng, nộp thêm 0,03% mỗi ngày, bị phạt từ 36% đến 40% số tiền trốn đóng (tối đa 150.000.000 đồng), bị công khai và không được xét thi đua. Nếu có gian dối, kéo dài từ 06 tháng, từ 50.000.000 đồng hoặc từ 10 người trở lên và đã bị phạt hành chính mà còn vi phạm, người có trách nhiệm và doanh nghiệp có thể bị truy cứu theo Điều 216 Bộ luật Hình sự.

Trốn đóng khác chậm đóng ở điểm nào?

Hai khái niệm này dễ bị dùng lẫn, nhưng hệ quả pháp lý khác nhau rõ rệt. Chậm đóng (Điều 38 Luật BHXH) là tình trạng doanh nghiệp đã đăng ký đúng mà chưa đóng đủ sau hạn đóng, hoặc chưa đăng ký đủ người nhưng vẫn còn trong khoảng 60 ngày kể từ hạn đăng ký. Trốn đóng (Điều 39) là khi đã vượt qua mốc 60 ngày đó, hoặc khi doanh nghiệp đăng ký tiền lương thấp hơn quy định ngay từ đầu.

Tiêu chíChậm đóngTrốn đóng
Căn cứĐiều 38 Luật BHXHĐiều 39 Luật BHXH
Đăng ký người lao độngChưa đăng ký đủ trong 60 ngày kể từ hạn đăng kýVẫn chưa đăng ký đủ sau 60 ngày đó
Tiền lương làm căn cứ đóngKhông áp dụngĐăng ký thấp hơn khoản 1 Điều 31 là trốn đóng
Số tiền đã đăng kýChưa đóng đủ sau hạn đóng chậm nhấtChưa đóng đủ sau 60 ngày kể từ hạn đóng và đã được đôn đốc
Khoản nộp thêm0,03%/ngày (Điều 40)0,03%/ngày (Điều 41)
Trách nhiệm hình sựKhông đặt raCó thể đặt ra theo Điều 216 Bộ luật Hình sự
Mức phạt doanh nghiệp từ 10/9/202624% đến 30% số tiền chậm đóng36% đến 40% số tiền trốn đóng

Nội dung về cách tính khoản 0,03%/ngày, tạm dừng đóng khi doanh nghiệp gặp khó khăn và mức phạt chậm đóng đã được trình bày tại bài Chậm đóng BHXH: nộp thêm 0,03%/ngày và mức xử phạt. Phần dưới đây tập trung vào trốn đóng.

Những hành vi nào bị coi là trốn đóng BHXH?

Khoản 1 Điều 39 Luật BHXH liệt kê các hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN). Đối với doanh nghiệp, có thể gom thành ba nhóm.

Nhóm 1: Không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người

Khoản 1 Điều 28 Luật BHXH yêu cầu người sử dụng lao động kê khai và nộp hồ sơ tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia. Nếu sau 60 ngày kể từ khi hết thời hạn 30 ngày này mà doanh nghiệp vẫn chưa đăng ký hoặc chỉ đăng ký một phần số người phải tham gia, hành vi chuyển thành trốn đóng (điểm a khoản 1 Điều 39). BHTN có quy định tương ứng tại điểm b.

Tình huống thường gặp: người lao động ký hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên nhưng được gọi là “cộng tác viên”, hợp đồng khoán việc có thực chất là quan hệ lao động, nhân viên mới chưa được đưa vào danh sách vì đang chờ hoàn thiện giấy tờ, hoặc chi nhánh tự tuyển người mà trụ sở chính không đăng ký.

Nhóm 2: Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định

Điểm c khoản 1 Điều 39 coi việc đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 là trốn đóng. Với doanh nghiệp tự quyết định chế độ tiền lương, tiền lương làm căn cứ đóng là tiền lương tháng, gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương (điểm b khoản 1 Điều 31).

Đây là nhóm có rủi ro lớn nhất vì không có khoảng 60 ngày chờ. Số ngày trốn đóng tính từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng phát sinh tiền lương đăng ký thấp (điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 274/2025/NĐ-CP). Khi kiểm tra phát hiện, phần chênh lệch thường kéo dài nhiều tháng, nhiều người. Cách xác định chi tiết từng khoản tính và không tính vào tiền lương đóng có tại bài Mức đóng BHXH, BHYT, BHTN năm 2026.

Nhóm 3: Không đóng hoặc đóng thiếu số tiền đã đăng ký sau khi đã được đôn đốc

Hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo với phương thức đóng hằng tháng (điểm a khoản 4 Điều 34). Nếu sau 60 ngày kể từ hạn này mà doanh nghiệp vẫn chưa đóng đủ, và cơ quan bảo hiểm xã hội đã đôn đốc theo Điều 35, hành vi trở thành trốn đóng (điểm đ khoản 1 Điều 39).

Mốc bắt đầu tính số ngày trốn đóng phụ thuộc thời điểm đôn đốc (điểm c khoản 2 Điều 6 Nghị định 274/2025/NĐ-CP): văn bản đôn đốc gửi trong 45 ngày đầu sau hạn đóng thì tính từ sau ngày thứ 60; gửi sau 45 ngày thì tính từ ngày thứ 15 kể từ ngày ban hành văn bản đôn đốc.

Lưu ý về văn bản đang soạn: dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH đang được Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2 (đề nghị hiệu lực từ 01/3/2027), có nội dung liên quan đến Điều 38 và Điều 39. Đến ngày 22/10/2026 dự án chưa được thông qua, nên bài này trình bày theo quy định đang có hiệu lực.

Ngoài ba nhóm trên, điểm g khoản 1 Điều 39 cho phép Chính phủ quy định thêm các trường hợp khác bị coi là trốn đóng. Bảo hiểm y tế (BHYT) có quy định trốn đóng riêng theo Luật BHYT; doanh nghiệp đăng ký thiếu người hoặc thiếu lương thường vi phạm đồng thời cả ba loại bảo hiểm.

Trường hợp nào không bị coi là trốn đóng?

Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP quy định các hành vi thuộc khoản 1 Điều 39 không bị coi là trốn đóng nếu có một trong các lý do sau, theo công bố của cơ quan có thẩm quyền:

  1. Bão, lũ, ngập lụt, động đất, hỏa hoạn lớn, hạn hán kéo dài và các loại thiên tai khác ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh.
  2. Dịch bệnh nguy hiểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động và khả năng tài chính của doanh nghiệp.
  3. Tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật gây ảnh hưởng đột xuất, bất ngờ đến hoạt động.
  4. Các sự kiện bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật dân sự.

Khi thuộc các trường hợp này, hành vi được xử lý như chậm đóng (khoản 4 Điều 38 Luật BHXH). Điểm g khoản 1 Điều 3 Nghị định 274/2025/NĐ-CP yêu cầu doanh nghiệp báo cáo nguyên nhân và gửi kèm hồ sơ trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc. Khó khăn về dòng tiền thông thường, doanh thu giảm hay khách hàng chậm thanh toán không thuộc danh sách này. Doanh nghiệp đang khó khăn có thể xem xét thủ tục tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất theo Điều 37 Luật BHXH, được trình bày tại bài về chậm đóng đã dẫn ở trên.

Doanh nghiệp trốn đóng phải chịu những biện pháp xử lý nào?

Điều 41 Luật BHXH quy định bốn nhóm biện pháp đối với hành vi trốn đóng, cộng thêm việc công khai thông tin theo Điều 35.

  • Đóng đủ số tiền trốn đóng. Số tiền trốn đóng là phần thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo khoản 4 Điều 13 Luật BHXH, tức gồm cả phần doanh nghiệp đóng và phần trích từ tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc (khoản 1 Điều 6 Nghị định 274/2025/NĐ-CP).
  • Nộp thêm số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền trốn đóng và số ngày trốn đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý trực tiếp xác định số tiền, số ngày và thông báo để doanh nghiệp đối chiếu (khoản 2 Điều 7 Nghị định 274/2025/NĐ-CP).
  • Xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 41).
  • Không xem xét trao tặng danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng (khoản 3 Điều 41).
  • Công khai thông tin. Cơ quan bảo hiểm xã hội công khai doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng trên cổng thông tin điện tử và gửi thông tin đến cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan thanh tra (khoản 2, khoản 3 Điều 35 Luật BHXH). Theo khoản 3 Điều 3 Nghị định 274/2025/NĐ-CP, cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh gửi thông tin này trước ngày 15 của tháng đầu quý tiếp theo.

Ngoài các biện pháp trên, khoản 8 Điều 13 Luật BHXH yêu cầu người sử dụng lao động bồi thường cho người lao động nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm đóng mà gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ. Thực tế, khi người lao động nghỉ thai sản, ốm đau hoặc thôi việc, phần chưa được đóng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ họ được hưởng, và đây thường là thời điểm phát sinh khiếu nại.

Mức phạt hành chính đối với trốn đóng hiện nay là bao nhiêu?

Nghị định 283/2026/NĐ-CP (ban hành 15/7/2026) có hiệu lực từ 10/9/2026. Điều 44 quy định mức phạt đối với hành vi trốn đóng BHXH bắt buộc; mức tại điều này là mức đối với cá nhân, còn tổ chức bị phạt gấp 02 lần (khoản 1 Điều 7). Bảng dưới đây ghi cả hai mức để Quý khách đối chiếu.

Hành vi (Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP)Mức đối với cá nhân, hộ kinh doanhMức đối với doanh nghiệp
Không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người sau 60 ngày, dưới 10 người6 đến 12 triệu đồng12 đến 24 triệu đồng
Từ 10 đến dưới 50 người12 đến 20 triệu đồng24 đến 40 triệu đồng
Từ 50 đến dưới 100 người20 đến 30 triệu đồng40 đến 60 triệu đồng
Từ 100 đến dưới 300 người30 đến 40 triệu đồng60 đến 80 triệu đồng
Từ 300 đến dưới 500 người40 đến 50 triệu đồng80 đến 100 triệu đồng
Từ 500 đến dưới 700 người50 đến 60 triệu đồng100 đến 120 triệu đồng
Từ 700 đến dưới 1.000 người60 đến 70 triệu đồng120 đến 140 triệu đồng
Từ 1.000 người trở lên70 đến 75 triệu đồng140 đến 150 triệu đồng
Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng thấp hơn quy định; không đóng hoặc đóng thiếu số đã đăng ký sau 60 ngày và đã được đôn đốc nhưng chưa đến mức truy cứu hình sự18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng36% đến 40% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 150 triệu đồng

Biện pháp khắc phục hậu quả đi kèm (khoản 3 Điều 44): buộc lập hồ sơ đăng ký đầy đủ số người tham gia, đóng đủ số tiền trốn đóng và nộp số tiền bằng 0,03%/ngày vào quỹ bảo hiểm xã hội. Tiền phạt không thay thế khoản truy đóng; doanh nghiệp chịu cả ba khoản cùng lúc.

Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính về bảo hiểm xã hội theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP là 01 năm. Hành vi xảy ra và kết thúc trước 10/9/2026 được xử lý theo văn bản có hiệu lực tại thời điểm thực hiện; hành vi còn đang tiếp diễn sau ngày này áp dụng nghị định mới. Hành vi đăng ký lương thấp hoặc đăng ký thiếu người thường kéo dài liên tục đến khi được khắc phục, nên Quý khách cần lưu ý thời điểm hành vi được xem là kết thúc khi đánh giá rủi ro.

Khi nào trốn đóng bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Khoản 2 Điều 41 Luật BHXH cho phép truy cứu trách nhiệm hình sự đối với trốn đóng; chậm đóng không có chế tài này. Tội danh tương ứng là Điều 216 Bộ luật Hình sự. Luật 86/2025/QH15 sửa đổi Bộ luật Hình sự từ 01/7/2025 không sửa Điều 216; văn bản hợp nhất 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025 giữ nguyên nội dung điều này.

Các yếu tố bắt buộc của khung cơ bản

Theo khoản 1 Điều 216, phải có đủ các yếu tố sau:

  1. Người có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động.
  2. Gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ. Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP (khoản 11 Điều 2) giải thích gian dối là cố ý không kê khai hoặc kê khai không đúng thực tế việc đóng bảo hiểm với cơ quan có thẩm quyền.
  3. Thời gian từ 06 tháng trở lên, tính liên tục hoặc cộng dồn (khoản 14 Điều 2 Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP).
  4. Trốn đóng từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, hoặc cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.
  5. Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

Yếu tố thứ năm cho thấy lần xử phạt hành chính đầu tiên là ranh giới quan trọng. Sau khi đã có quyết định xử phạt, nếu doanh nghiệp tiếp tục để tình trạng trốn đóng kéo dài, hồ sơ có thể được chuyển sang cơ quan điều tra.

Các khung hình phạt

KhungTrường hợpCá nhânPháp nhân thương mại
Khoản 150 đến dưới 300 triệu đồng; hoặc 10 đến dưới 50 ngườiPhạt tiền 50 đến 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc tù 03 tháng đến 01 nămPhạt tiền 200 đến 500 triệu đồng
Khoản 2Phạm tội 02 lần trở lên; 300 triệu đến dưới 1 tỷ đồng; 50 đến dưới 200 người; không đóng số tiền đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động thuộc khoản 1Phạt tiền 200 đến 500 triệu đồng hoặc tù 06 tháng đến 03 nămPhạt tiền 500 triệu đến 1 tỷ đồng
Khoản 3Từ 1 tỷ đồng trở lên; từ 200 người trở lên; không đóng số tiền đã thu hoặc đã khấu trừ thuộc khoản 2Phạt tiền 500 triệu đến 1 tỷ đồng hoặc tù 02 năm đến 07 nămPhạt tiền 1 tỷ đến 3 tỷ đồng

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền bổ sung từ 20 đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm (khoản 4).

Tình tiết cần đặc biệt lưu ý là “không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động”: doanh nghiệp đã trừ phần bảo hiểm trên phiếu lương nhưng không nộp cho cơ quan bảo hiểm (khoản 4 Điều 3 Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP). Tình tiết này đẩy hành vi lên khung nặng hơn ngay cả khi số tiền chưa lớn.

Hồ sơ kiến nghị khởi tố được lập thế nào?

Công văn 5659/BCA-CSKT ngày 15/12/2025 của Bộ Công an hướng dẫn cơ quan bảo hiểm xã hội lập hồ sơ kiến nghị khởi tố theo Điều 216, gồm: văn bản kiến nghị khởi tố; quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn đóng kèm quyết định kiểm tra hoặc thanh tra của cơ quan có thẩm quyền, biên bản vi phạm, kết luận kiểm tra hoặc thanh tra; tài liệu chứng minh trốn đóng từ đủ 06 tháng và đạt một trong hai dấu hiệu 50 triệu đồng hoặc 10 người; danh sách người lao động đang tham gia và danh sách người phải tham gia; thông báo kết quả đóng; biên bản làm việc về đóng bảo hiểm. Giám đốc cơ quan bảo hiểm xã hội ký văn bản kiến nghị gửi cơ quan Cảnh sát điều tra cùng cấp.

Về văn bản mới: dự thảo Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2, khóa XVI; ngày 17/10/2026, Quốc hội đã nghe Báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo. Dự thảo có hướng điều chỉnh mức phạt tiền và ngưỡng định lượng ở nhiều tội danh, nên các con số tại mục này cần được đối chiếu lại khi bộ luật được thông qua. Đến ngày kiểm tra 22/10/2026, bộ luật này chưa được thông qua, nên Điều 216 hiện hành vẫn là căn cứ áp dụng. Nội dung tại mục này được kiểm tra lại khi có văn bản chính thức.

Cơ quan bảo hiểm xã hội phát hiện trốn đóng bằng cách nào?

Luật BHXH 2024 trao cho cơ quan bảo hiểm xã hội các công cụ phát hiện trực tiếp, không còn phụ thuộc hoàn toàn vào việc doanh nghiệp tự khai.

  • Dữ liệu từ cơ quan thuế. Khoản 3 Điều 17 Luật BHXH cho cơ quan bảo hiểm xã hội quyền được cơ quan thuế cung cấp thông tin về chi phí tiền lương để tính thuế của người sử dụng lao động và các thông tin khác liên quan đến việc tham gia bảo hiểm xã hội. Khi chi phí tiền lương doanh nghiệp đưa vào chi phí được trừ hoặc số người trên quyết toán thuế thu nhập cá nhân lớn hơn rõ rệt so với danh sách đóng bảo hiểm, chênh lệch này trở thành căn cứ để kiểm tra.
  • Dữ liệu đăng ký doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 17 cho phép kết nối với cơ quan đăng ký kinh doanh để kiểm tra việc đăng ký tham gia của doanh nghiệp mới thành lập.
  • Quyền yêu cầu xuất trình hồ sơ. Khoản 1 Điều 17 cho phép yêu cầu doanh nghiệp xuất trình sổ quản lý lao động, thang lương, bảng lương và tài liệu liên quan.
  • Kiểm tra việc thực hiện pháp luật. Khoản 5 Điều 17 giao cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BHXH bắt buộc và việc đóng BHTN, BHYT. Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm, cơ quan bảo hiểm xã hội gửi thông tin đến cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan thanh tra có liên quan để xử lý theo thẩm quyền (khoản 3 Điều 35).
  • Phản ánh của người lao động. Người lao động có thể tra cứu quá trình đóng của mình và phản ánh khi thấy thiếu. Khi phát hiện hoặc tiếp nhận thông tin về chậm đóng, trốn đóng ngoài đợt kiểm tra hằng tháng, cơ quan bảo hiểm xã hội đôn đốc bằng văn bản trong 05 ngày làm việc, nêu rõ căn cứ phát hiện (khoản 2 Điều 3 Nghị định 274/2025/NĐ-CP).

Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ quan thuế đã có quy chế chia sẻ dữ liệu từ năm 2021; một số địa phương tiếp tục ký quy chế phối hợp cấp tỉnh (ví dụ Quảng Trị giai đoạn 2026 đến 2030) để chia sẻ dữ liệu người nộp thuế, tổ chức trả thu nhập, danh sách người lao động và tình hình đóng bảo hiểm, đồng thời phối hợp kiểm tra các đơn vị có dấu hiệu rủi ro. Điều này đồng nghĩa với việc hồ sơ thuế và hồ sơ bảo hiểm của doanh nghiệp cần nhất quán với nhau.

Ví dụ tính trách nhiệm tài chính khi bị xác định trốn đóng

Giả định để minh họa (không phải ca thực tế): một doanh nghiệp có 40 người lao động, đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng 6.000.000 đồng/người/tháng. Thực tế, mỗi người được trả lương và phụ cấp cố định hằng tháng là 9.000.000 đồng, đều thuộc tiền lương làm căn cứ đóng theo điểm b khoản 1 Điều 31. Tình trạng kéo dài 12 tháng thì bị kiểm tra phát hiện.

Để đơn giản, ví dụ chỉ tính phần BHXH bắt buộc vào quỹ ốm đau, thai sản và quỹ hưu trí, tử tuất: doanh nghiệp đóng 17%, người lao động 8%, cộng 25% tiền lương làm căn cứ đóng. Ví dụ chưa gồm BHYT, BHTN và quỹ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.

KhoảnCách tínhKết quả
Phần lương đăng ký thiếu mỗi tháng40 người x (9.000.000 - 6.000.000)120.000.000 đồng
Số tiền BHXH trốn đóng mỗi tháng120.000.000 x 25%30.000.000 đồng
Tổng số tiền trốn đóng 12 tháng30.000.000 x 12360.000.000 đồng
Khoản 0,03%/ngày (giả định bình quân mỗi kỳ chậm 200 ngày)360.000.000 x 0,03% x 20021.600.000 đồng
Tiền phạt hành chính đối với doanh nghiệp36% đến 40% x 360.000.000 = 129.600.000 đến 144.000.000 đồng, dưới mức trần 150.000.000 đồng129.600.000 đến 144.000.000 đồng
Tổng ước tính phải nộp360.000.000 + 21.600.000 + phạtkhoảng 511.200.000 đến 525.600.000 đồng

Khoản 0,03%/ngày thực tế được cơ quan bảo hiểm xã hội tính riêng cho từng tháng phát sinh; tháng càng xa thì số ngày càng dài. Con số 200 ngày bình quân chỉ dùng để hình dung quy mô.

Về hình sự: số tiền 360.000.000 đồng và số người 40 đã vượt ngưỡng của khoản 1 Điều 216, trong đó số tiền rơi vào mức của khoản 2. Tuy nhiên, tại thời điểm bị phát hiện lần đầu, doanh nghiệp chưa từng bị xử phạt hành chính về hành vi này, nên yếu tố “đã bị xử phạt mà còn vi phạm” chưa có. Nếu sau khi bị xử phạt, doanh nghiệp vẫn tiếp tục đăng ký lương thấp, rủi ro hình sự trở thành thực tế. Ví dụ này cho thấy việc khắc phục ngay sau lần kiểm tra đầu tiên có ý nghĩa quyết định.

Doanh nghiệp tự kiểm tra và khắc phục như thế nào?

Doanh nghiệp không cần chờ đến khi có đoàn kiểm tra. Việc tự kiểm tra định kỳ giúp phát hiện sai lệch khi số tiền còn nhỏ và số ngày tính khoản 0,03% còn ngắn.

Hồ sơ doanh nghiệp cần chuẩn bị

  • Danh sách toàn bộ người đang làm việc, kèm loại hợp đồng, ngày bắt đầu và ngày ký từng hợp đồng.
  • Bảng lương 12 đến 24 tháng gần nhất, tách rõ lương theo chức danh, phụ cấp và các khoản bổ sung.
  • Quy chế lương, thưởng, thỏa ước lao động tập thể (nếu có) và phụ lục hợp đồng thể hiện các khoản trả thường xuyên.
  • Danh sách đóng BHXH, BHYT, BHTN và thông báo kết quả đóng do cơ quan bảo hiểm xã hội gửi hằng tháng.
  • Tờ khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân và số liệu chi phí tiền lương trên quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp.
  • Các văn bản đôn đốc, biên bản làm việc với cơ quan bảo hiểm xã hội (nếu có).

Các bước kiểm tra hồ sơ BHXH

  1. Đối chiếu số người. So danh sách người làm việc với danh sách đang đóng bảo hiểm. Mỗi người có hợp đồng từ đủ 01 tháng mà chưa có trong danh sách cần được xác định ngày bắt đầu thuộc diện tham gia để tính hạn 30 ngày và mốc 60 ngày.
  2. Đối chiếu tiền lương. So tiền lương làm căn cứ đóng đã đăng ký với lương và các khoản trả thường xuyên, ổn định trên bảng lương thực tế của từng người, từng tháng.
  3. Đối chiếu với hồ sơ thuế. So tổng quỹ lương và số người trên quyết toán thuế với quỹ lương và số người đóng bảo hiểm. Chênh lệch cần có giải thích hợp lệ, chẳng hạn khoản không thuộc tiền lương làm căn cứ đóng hoặc người lao động không thuộc diện bắt buộc.
  4. Kiểm tra công nợ bảo hiểm. Xác định số đã đăng ký nhưng chưa đóng, tháng phát sinh và ngày văn bản đôn đốc để biết khoản nào còn là chậm đóng, khoản nào đã chuyển sang trốn đóng.
  5. Phân loại và ước tính. Lập bảng số tiền phải đóng bổ sung theo từng tháng, ước tính khoản 0,03%/ngày và mức phạt có thể áp dụng để lập kế hoạch dòng tiền.
  6. Khắc phục. Lập hồ sơ đăng ký bổ sung người lao động, điều chỉnh tăng tiền lương làm căn cứ đóng, đóng bổ sung số còn thiếu với cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý trực tiếp và lưu toàn bộ chứng từ.
  7. Chuẩn hóa quy trình. Đưa bước đăng ký bảo hiểm vào quy trình tiếp nhận nhân sự, cập nhật mức đóng mỗi khi điều chỉnh lương hoặc phụ cấp, và đối chiếu số liệu thuế với bảo hiểm ít nhất mỗi quý.

Khi đã nhận văn bản đôn đốc, doanh nghiệp nên phản hồi bằng văn bản, đối chiếu số liệu với cơ quan bảo hiểm xã hội và thực hiện đóng trước khi hết mốc 60 ngày. Nếu có lý do thuộc Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP, cần gửi hồ sơ chứng minh trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc.

Doanh nghiệp đang chuẩn bị giải thể, chấm dứt hoạt động hoặc cắt giảm lao động càng cần kiểm tra sớm, vì nghĩa vụ bảo hiểm còn tồn là một trong những khoản phải thanh toán trước khi hoàn tất thủ tục. Nội dung này được trình bày tại bài Giải thể doanh nghiệp đông lao động: lương, trợ cấp, bảo hiểm xã hội và bài Chấm dứt hợp đồng lao động.

Những hiểu lầm thường gặp

  • “Chỉ cần đóng trên lương cơ bản là đủ.” Tiền lương làm căn cứ đóng gồm cả phụ cấp lương và các khoản bổ sung được trả thường xuyên, ổn định. Đóng thiếu phần này là trốn đóng theo điểm c khoản 1 Điều 39.
  • “Trốn đóng chỉ là khi không đóng đồng nào.” Đăng ký thiếu người hoặc đăng ký lương thấp cũng là trốn đóng, ngay cả khi doanh nghiệp vẫn nộp tiền đều đặn hằng tháng.
  • “Gọi là cộng tác viên thì không phải đóng.” Nghĩa vụ phụ thuộc bản chất quan hệ lao động. Người có trả lương, chịu sự quản lý và làm theo hợp đồng từ đủ 01 tháng trở lên thuộc diện tham gia bắt buộc.
  • “Đã nộp phạt là xong.” Tiền phạt không thay thế việc đóng đủ số tiền trốn đóng và khoản 0,03%/ngày; nếu tiếp tục vi phạm sau khi bị xử phạt, rủi ro hình sự xuất hiện.
  • “Chậm 60 ngày tự động thành trốn đóng.” Với khoản đã đăng ký mà chưa đóng, phải có thêm văn bản đôn đốc của cơ quan có thẩm quyền. Riêng đăng ký lương thấp thì không cần mốc 60 ngày hay văn bản đôn đốc.
  • “Doanh nghiệp khó khăn tài chính thì không bị coi là trốn đóng.” Chỉ các lý do tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP theo công bố của cơ quan có thẩm quyền mới loại trừ. Khó khăn thông thường cần được xử lý bằng thủ tục tạm dừng đóng khi đủ điều kiện.
  • “Cơ quan bảo hiểm không biết lương thực trả.” Cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền nhận thông tin chi phí tiền lương từ cơ quan thuế và yêu cầu xuất trình bảng lương (khoản 1, khoản 3 Điều 17 Luật BHXH).

Thái Tín hỗ trợ doanh nghiệp kiểm tra và khắc phục trốn đóng BHXH như thế nào?

Thái Tín đồng hành cùng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp đông lao động và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong việc đưa hồ sơ lao động và bảo hiểm về trạng thái nhất quán:

  • Đối chiếu danh sách lao động, bảng lương và hồ sơ thuế với danh sách đóng bảo hiểm để xác định đúng phần nào là chậm đóng, phần nào đã là trốn đóng.
  • Lập bảng ước tính số tiền đóng bổ sung, khoản 0,03%/ngày và lộ trình khắc phục phù hợp với dòng tiền.
  • Chuẩn bị hồ sơ đăng ký bổ sung, điều chỉnh mức đóng và kết nối đối tác chuyên môn làm việc với cơ quan bảo hiểm xã hội khi cần.

Quý khách có thể gửi số lao động, cách trả lương hiện tại và văn bản đôn đốc gần nhất (đã ẩn thông tin nhạy cảm) để Thái Tín cùng xem xét tình trạng và đề xuất hướng xử lý. Tham khảo thêm bài Hồ sơ lao động, BHXH cho doanh nghiệp đông nhân viên.

Hỏi đáp

Đăng ký lương đóng BHXH thấp hơn lương thực trả có phải là trốn đóng không?

Có. Điểm c khoản 1 Điều 39 Luật BHXH 41/2024/QH15 xếp hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 vào nhóm trốn đóng. Hành vi này không có khoảng 60 ngày chờ như trường hợp không đóng số đã đăng ký; số ngày trốn đóng được tính từ sau ngày cuối cùng của tháng tiếp theo tháng phát sinh tiền lương đăng ký thấp (điểm b khoản 2 Điều 6 Nghị định 274/2025/NĐ-CP).

Doanh nghiệp trốn đóng BHXH bị phạt hành chính bao nhiêu?

Từ 10/9/2026, khoản 2 Điều 44 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định phạt từ 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75.000.000 đồng; đây là mức đối với cá nhân. Doanh nghiệp là tổ chức bị phạt gấp 02 lần, tức từ 36% đến 40%, tối đa 150.000.000 đồng (khoản 1 Điều 7). Với hành vi không đăng ký hoặc đăng ký thiếu người, mức phạt tính theo số người vi phạm, từ 6 đến 12 triệu đồng khi dưới 10 người, tăng dần đến 70 đến 75 triệu đồng khi từ 1.000 người trở lên (mức cá nhân; doanh nghiệp gấp 02 lần).

Trốn đóng BHXH bao nhiêu thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Theo khoản 1 Điều 216 Bộ luật Hình sự, phải đủ các yếu tố: có nghĩa vụ đóng; gian dối hoặc dùng thủ đoạn khác để không đóng hoặc đóng không đầy đủ; từ 06 tháng trở lên; trốn đóng từ 50.000.000 đồng hoặc cho từ 10 người lao động trở lên; và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm. Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn 06 tháng được tính liên tục hoặc cộng dồn.

Doanh nghiệp tự phát hiện mình đóng thiếu thì nên làm gì?

Doanh nghiệp nên lập bảng đối chiếu từng người, từng tháng giữa tiền lương thực trả và tiền lương đã đăng ký, điều chỉnh tăng mức đóng và đóng bổ sung phần còn thiếu với cơ quan bảo hiểm xã hội quản lý trực tiếp. Theo khoản 1 Điều 41 Luật BHXH, số tiền đóng bổ sung đi kèm khoản 0,03%/ngày; chủ động khắc phục sớm giúp số ngày tính khoản này ngắn lại và giảm rủi ro bị xác định vi phạm kéo dài khi kiểm tra.

Thiên tai, dịch bệnh làm doanh nghiệp không đóng được BHXH có bị coi là trốn đóng không?

Không, nếu thuộc một trong các lý do tại Điều 4 Nghị định 274/2025/NĐ-CP theo công bố của cơ quan có thẩm quyền: thiên tai ảnh hưởng trực tiếp và nghiêm trọng, dịch bệnh nguy hiểm đã được công bố, tình trạng khẩn cấp, hoặc sự kiện bất khả kháng khác theo pháp luật dân sự. Khi đó hành vi được xử lý như chậm đóng (khoản 4 Điều 38 Luật BHXH). Doanh nghiệp cần gửi hồ sơ chứng minh trước ngày 25 của tháng có văn bản đôn đốc (điểm g khoản 1 Điều 3 Nghị định 274/2025/NĐ-CP).

Cơ quan bảo hiểm xã hội có biết doanh nghiệp khai lương với cơ quan thuế khác với khai đóng BHXH không?

Có cơ sở để biết. Khoản 3 Điều 17 Luật BHXH cho cơ quan bảo hiểm xã hội quyền được cơ quan thuế cung cấp thông tin về chi phí tiền lương để tính thuế của người sử dụng lao động và các thông tin khác liên quan đến việc tham gia bảo hiểm xã hội. Khoản 1 Điều 17 cho quyền yêu cầu xuất trình sổ quản lý lao động, thang lương, bảng lương. Vì vậy, chênh lệch lớn giữa chi phí lương khai thuế và quỹ lương đóng bảo hiểm là dấu hiệu dễ bị đưa vào diện kiểm tra.

Căn cứ pháp lý · ngày kiểm

Kiểm ngày 22/10/2026 · kiểm tra lại 22/01/2027 hoặc khi có văn bản sửa đổi. Nội dung là giải thích chung, không thay thế ý kiến tư vấn cho từng trường hợp.

  1. Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15 (hiệu lực 01/7/2025), được sửa đổi bởi Luật Nhà giáo 73/2025/QH15, Luật Thanh tra 84/2025/QH15 (điểm s khoản 1 Điều 62 bãi bỏ chức năng thanh tra của cơ quan bảo hiểm xã hội tại khoản 1 Điều 16, khoản 5 Điều 17, hiệu lực 01/7/2025) và Luật 142/2025/QH15, theo Văn bản hợp nhất 19/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026 (Công báo số 133): khoản 4 và khoản 8 Điều 13 (trách nhiệm đóng, bồi thường), khoản 1, 2, 3, 5 Điều 17 (quyền hạn của cơ quan bảo hiểm xã hội; khoản 5 nay chỉ còn quyền kiểm tra), khoản 1 Điều 28 (hạn đăng ký 30 ngày), khoản 1 Điều 31 (tiền lương làm căn cứ đóng), khoản 4 Điều 34 (hạn đóng), Điều 35 (đôn đốc, công khai), Điều 38 (chậm đóng), Điều 39 (trốn đóng), Điều 40, 41 (biện pháp xử lý).
  2. Nghị định 274/2025/NĐ-CP (ban hành 16/10/2025, hiệu lực 30/11/2025): Điều 3 (đôn đốc, báo cáo nguyên nhân trước ngày 25), Điều 4 (trường hợp không bị coi là trốn đóng), Điều 6 (số tiền, số ngày trốn đóng), Điều 7 (xác định hằng tháng khoản 0,03%/ngày).
  3. Nghị định 283/2026/NĐ-CP (ban hành 15/7/2026, hiệu lực 10/9/2026; Công báo số 448): khoản 1 Điều 7 (mức phạt tổ chức gấp 02 lần cá nhân), Điều 44 (trốn đóng BHXH bắt buộc), thời hiệu xử phạt 01 năm về bảo hiểm xã hội.
  4. Bộ luật Hình sự 100/2015/QH13, sửa đổi bởi Luật 12/2017/QH14, Luật 59/2024/QH15, Luật 86/2025/QH15, theo Văn bản hợp nhất 135/VBHN-VPQH ngày 05/9/2025: Điều 216 (tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động); Luật 86/2025/QH15 không sửa Điều 216 (đối chiếu thêm trích dẫn Điều 216 của thuvienphapluat ngày 20/10/2026).
  5. Nghị quyết 05/2019/NQ-HĐTP (ban hành 15/8/2019, hiệu lực 01/9/2019) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: khoản 10 đến 14 Điều 2 (khái niệm trốn đóng, gian dối, không đóng, không đóng đầy đủ, 06 tháng liên tục hoặc cộng dồn), khoản 4 Điều 3 (không đóng số tiền đã thu, đã khấu trừ của người lao động).
  6. Công văn 5659/BCA-CSKT ngày 15/12/2025 của Bộ Công an hướng dẫn hồ sơ kiến nghị khởi tố theo Điều 214, 215, 216 Bộ luật Hình sự (theo tin của Bảo hiểm xã hội Việt Nam ngày 30/12/2025).
  7. Đã tra sửa đổi, thay thế ngày 22/10/2026: chưa thấy văn bản sửa đổi Nghị định 274/2025/NĐ-CP, Nghị định 283/2026/NĐ-CP; Bộ luật Hình sự (sửa đổi) đang được Quốc hội xem xét tại Kỳ họp thứ 2 (báo cáo tiếp thu, chỉnh lý ngày 17/10/2026), chưa thông qua tại thời điểm kiểm tra; dự thảo có hướng điều chỉnh mức phạt tiền và ngưỡng định lượng ở nhiều tội danh. Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHXH được trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (Quốc hội nghe Tờ trình ngày 21/10/2026, đề nghị hiệu lực 01/3/2027), có nội dung liên quan đến Điều 38, Điều 39; chưa thông qua tại ngày kiểm. Trước khi đăng (draft: false) phải tra lại cả hai dự án.

Tra cứu văn bản, tiêu chuẩn gốc